Nhà văn Jorge Luis Borges.
Tên đăng nhập:
Bạn đã có tài khoản rồi phải không?
Quên mật khẩu ?
  • Đ.nhập or Đ.ký



    Chơi game Hoành Tảo - Nhận Quà Điên Đảo - Tham Gia Ngay


    Tải Game Avatar 186 | Chơi game avatar 186 mới nhất trên dế yêu
    Kết quả 1 đến 3 của 3
    1. #1
      Moderator thienbinh1992's Avatar
      Ngày tham gia
      Sep 2006
      Đang ở
      trong trái tim anh Zydar!^^
      Bài viết
      3,615
      Thích/Ko thích
      Đã nhận: 4/0
      Đã cho: 0/0

      Ignore User

      Mặc định Nhà văn Jorge Luis Borges.

      (Chơi Game tiến lên, bài cào, caro, xì dách, xì tố, phỏm, xập xám...trên mobile) - Soạn MOV G16 gửi 8077 (500 đồng)
      (Chơi Game nông trại, trồng trọt, chơi bài, câu cá, caro, tìm ox-bx...trên mobile) - Soạn MOV A36 gửi 8077 (500 đồng)

      Jorge Luis Borges – Nhà văn Jorge Luis Borges – Isidoro Francisco Jorge Luis Borges Acevedo (24 Tháng 8, 1899 – 14 tháng 6, 1986), được biết đến dưới tên Jorge Luis Borges (phát âm tiếngTây Ban Nha : [xorxe lwis βorxes]), là một nhà văn người Argentina. Ông là nhà văn, nhà thơ và dịch giả sinh ra tại thành phố Buenos Aires.

      Nhà văn Jorge Luis Borges.

      Ngay từ khi còn sống, Jorge Luis Borges đã được coi là một tác giả kinh điển của nền văn học thế kỷ XX. Gần như cả đời ông đã dồn mọi tâm lực vào sáng tác, không vợ con, trong cảnh mù lòa. Các tác phẩm của Borges đã trở thành niềm đam mê của giới tinh hoa trí thức từ những năm 50 của thế kỷ trước cho tới tận bây giờ.

      Tiểu sử

      Ông không chỉ gánh chịu mà còn biết cách biến cải số phận không dễ dàng và đơn giản của mình thành tư liệu sáng tác. Sự tích tụ các hình ảnh và biểu tượng văn hóa là hệ lụy của quá trình đó; nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này là cảm giác như thể mình là đại diện cuối cùng của một dòng tộc tuyệt tự, không bao giờ được có những hậu duệ khác nữa.

      Tiếp nối đường cha

      Hơn một trăm năm trước đây, vào đêm mùa đông ở Nam bán cầu 24/8/1899 trong nhà luật sư Jorge Guillermo Borges (1874-1938) và Leonor Acevedo Suarez (1876-1975) đã sinh hạ một cậu bé được đặt tên là Jorge Luis. Phần lớn tuổi thơ của nhà văn tương lai đã trôi qua trong không khí gia đình đầm ấm.

      Luật sư Jorge Guillermo Borges cũng là một triết gia theo chủ nghĩa bất khả tri thừa hưởng từ họ ngoại Haslam tới Argentina từ Staffordshire, Anh quốc. Ông đã xây dựng được một thư viện rất nhiều sách bằng tiếng Anh. Ông cũng từng in một tiểu thuyết và đã viết được thêm ba cuốn sách nữa nhưng đã không công bố mà tiêu hủy chúng. Và rất không may, đang ở độ tuổi sung sức, ông đã bị lòa…

      Bà nội của nhà văn tương lai dạy cho con và cháu tiếng Anh. Và cậu bé Jorge Luis ngay từ nhỏ đã rất thông thạo thứ tiếng này: năm lên tám, nhà văn tương lai đã dịch chuyện cổ tích của Oscar Wilde xuất sắc đến mức tạp chí Sur đã đăng nó lên.

      Sau này, Borges còn dịch cả Virginia Woolf, một số trích đoạn từ William Faulkner, truyện ngắn của Rudyard Kipling, một số chương từ “Đám giỗ Finnegans” của James Joyce.

      Có lẽ ông đã thừa hưởng được từ dân tộc Anh tình yêu đối với những mâu thuẫn, sự thanh thoát trong tiểu luận và cốt truyện hấp dẫn. Nhiều nhà phê bình văn học đã nhấn mạnh rằng, Borges – đó là một nhà văn Anh viết bằng tiếngTây Ban Nha…

      Về sau, Borges kể lại: “Ngay từ khi tôi còn bé, lúc cha tôi bắt đầu bị lòa, trong gia đình đã lặng lẽ ngự trị ý thức rằng, tôi sẽ phải thực hiện trong văn học những việc mà hoàn cảnh đã không cho cha tôi làm. Điều này được coi như một sự mặc nhiên (mà sự tin tưởng như thế thường mạnh hơn nhiều so với một ước nguyện được nói thành lời). Ai cũng trông chờ tôi trở thành nhà văn. Và tôi bắt đầu viết từ năm lên 6 -7 tuổi”.

      Năm 1914, gia đình Borges chuyển sang châu Âu cư trú. Mùa thu năm đó, chàng thiếu niên Jorge Luis bắt đầu vào học ở Trường Cao đẳng Geneva. Năm 1919, gia đình chuyển sang Tây Ban Nha. Ngày 31/12/1919 trên tạp chí Hy Lạp xuất hiện bài thơ đầu tiên của Jorge Luis mà trong đó, tác giả “dồn hết sức để trở thành Walt Whitman”.

      Chẳng bao lâu sau, Borges gia nhập nhóm Ultraism mà có thời được định nghĩa như một thứ chủ nghĩa tiền phong, thể hiện sự phản kháng vô chính phủ của tầng lớp tiểu tư sản chống lại sự sa đọa thị dân và sự hạn chế của xã hội tư sản. Bản thân Borges đã không viết được tác phẩm gì đáng kể trong tinh thần của Ultraism. Cũng giống như thi sĩ Nga Vladimir Mayakovsky khi ông còn say mê những thứ chủ nghĩa mang tính tiền phong dạo đó…
      Đi trước hiện tại

      Năm 1921, Borges trở về Buenos Aires với tư cách một nhà thơ. Tới năm 1930, Borges đã viết và in được 7 cuốn sách, lập ra ba tạp chí và cộng tác với khoảng 12 ấn phẩm khác. Tới cuối những năm 20 của thế kỷ trước, ông bắt đầu viết truyện ngắn. “Giai đoạn từ năm 1921 tới năm 1930 đời tôi diễn ra rất sôi động như có lẽ thực chất rất hỗn độn và thậm chí là vô mục đích” – về sau, Borges nhớ lại.

      Khoảng năm 1937, Borges lần đầu tiên vào làm trong thư viện như một nhân viên thường xuyên và tại đó ông đã phải chịu “9 năm cực kỳ bất hạnh”: lương ít, việc ít, chủ yếu chỉ ngồi đọc sách trong một không khí chung vô cùng nhàm chán: “Toàn bộ chức phận một nhân viên thư viện được tôi hoàn thành ngay trong giờ làm việc đầu tiên rồi tôi lẳng lặng xuống dưới hầm sách đọc hoặc viết năm sáu giờ liền. Các nam nhân viên thư viện khi đó chỉ mê theo dõi các cuộc đua ngựa, các trận bóng đá và các câu chuyện tục tằn. Một nữ bạn đọc đã bị hiếp khi đi vào phòng dành cho phụ nữ. Tất cả đều bảo rằng, chuyện này không thể không xảy ra một khi phòng dành cho phụ nữ ở cạnh phòng dành cho nam giới”.

      Thế nhưng cũng trong thời gian đó Borges đã sống như mọt sách và viết được hàng loạt những kiệt tác cho tương lai, mặc dù lúc chúng mới xuất hiện, ít ai đánh giá được chân giá trị của chúng. Những tác phẩm đầu tay, xuất bản vào những năm 30-40 đã bị thất bại, còn cuốn “Lịch sử vĩnh cửu”, phát hành năm 1936, chỉ được 37 người mua và tác giả sách đã định đích thân đến từng nhà người mua để xin lỗi và cảm ơn…

      Không nản chí, Borges đã kiên trì đi theo con đường riêng. Tác phẩm “Pierre Menard, tác giả Don Kihote” (1938) được chính Borges xác định như một thể loại ở giữa tiểu phẩm và “truyện ngắn đích thực”. Thế nhưng, luận điểm của một Borges kinh điển cũng đã hiện ra ở đây một cách rất đầy đủ.

      Đó là câu chuyện kể về Pierre Menard, một nhà văn không có thật nhưng vẫn được miêu tả đầy đủ như đã tồn tại với cả danh mục tác phẩm, đã tìm cách sáng tác tiểu thuyết “Don Kihote” như thế nào. “Không phải ông ấy muốn viết nên bộ “Don Kihote” thứ hai – làm thế thì chẳng khó, – mà chính là bộ “Don Kihote” đã có. Thật là thừa nếu phải nói là ông ấy không định sao chép một cách cơ khí, ông định chép lại tiểu thuyết này.

      Ý định táo bạo của ông ấy là ở chỗ, sáng tạo nên vài trang sách mà trùng từng chữ từng dòng với những gì mà Miguel de Cervantes đã viết nên”. Công nghệ như sau: “Nghiên cứu tiếng Tây Ban Nha thật sâu sắc, xác lập trong mình niềm tin Thiên chúa giáo, chiến đấu chống lại những người Morơ hay người Thổ Nhĩ Kỳ, quên lãng đi lịch sử châu Âu trong giai đoạn giữa 1602 và 1918″. Tuy nhiên, về sau, công nghệ này bị bác bỏ vì quá dễ. Cần vẫn phải là Pierre Menard mà vẫn viết được “Don Kihote”.

      Tiếp theo trong truyện, Menard rốt cuộc cũng đã hoàn thành công việc đặt ra, tức là hai văn bản hoàn toàn trùng nhau, dẫu ý nghĩa toát ra, như Borges khẳng định, mỗi bên mỗi khác. Chính xung quanh mâu thuẫn này đã xây dựng toàn bộ cốt truyện. Đối với Borges, đó là trò chơi trí tuệ, một dạng thú vui giải trí theo một cách nào đó.

      Thế nhưng, chính từ văn bản truyện ngắn đã được viết dưới hầm sách thư viện Buenos Aires năm 1938 đó đã nảy sinh cả một dòng văn học có giá trị của châu Mỹ La tinh. Truyện ngắn “Pierre Menard” đã trở nên đắc dụng sau ba bốn chục năm xuất hiện, đặc biệt là khi danh tiếng Borges đã trở nên lừng lẫy, nhất là ở Mỹ.

      Dưới ánh sáng của chủ nghĩa hậu hiện đại, đó là câu chuyện về việc, không thể nào có các văn bản mới, số lượng các văn bản là hữu hạn và nói chung, chúng đã được viết ra hết cả rồi. Đã có quá nhiều sách nên đơn giản là không thể viết ra những cuốn sách mới và cũng không cần phải làm như thế. Tuy vậy, “Don Kihote” vẫn hiện thực hơn chính Pierre Menard, tức là văn học hiện thực hơn chính nhà văn.

      Chính vì vậy không phải nhà văn viết ra sách, mà những cuốn sách đã có sẵn trong Thư viện Toàn năng (hình ảnh của thư viện này đã được Borges mô tả trong truyện ngắn “Thư viện Babilon”, cũng từng được viết dưới hầm sách đó) tự viết nên mình bằng các nhà văn, và người viết hóa ra lại là người lặp lại, điều mà thí dụ về Pierre Menard đã chứng minh.

      Trong sự tuân thủ những gì đã được viết ra rồi, những ngôn từ, suy tư của người khác ẩn chứa một sự định mệnh nào đó và cảm giác về sự kết thúc của văn học. Về bản chất, Borges, trong lúc muốn đi tới Ấn Độ, đã lọt vào châu Mỹ. Không có gì hoài nghi nữa về việc một nhân viên thư viện, mà bàn viết ở ngay cạnh tủ sách, tự mình cũng cảm thấy rõ rệt sự phụ thuộc của mình với tư cách một nhà văn vào những gì đã được in ra…

      Vinh quang muộn mằn

      Năm 1946 tại Argentina đã xác lập chế độ độc tài của Tổng thống Peron. Borges đã bị đuổi khỏi thư viện vì chế độ mới không hài lòng với những phát ngôn và sáng tác của ông. Như sau này ông nhớ lại, ông đã được nhắc nhở là ông được thăng chức từ nhân viên thư viện lên chức thanh tra về thương mại gia cầm ở các khu chợ thành phố.

      Và vì vậy, ông đã phải sống cảnh thất nghiệp từ năm 1946 tới năm 1955, khi chế độ độc tài bị lật đổ. Của đáng tội, năm 1950 dẫu sao ông cũng được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn Argentina, một trong những tổ chức ít ỏi đối lập với chế độ độc tài nhưng chẳng được bao lâu, nó đã bị giải tán. Sau khi chế độ độc tài sụp đổ, Borges được cử làm Giám đốc Thư viện Quốc gia, đồng thời cũng là giáo sư văn học Anh và Mỹ tại Trường Đại học Tổng hợp Buenos Aires.

      Nhưng mọi sự đã là muộn màng, đúng như câu ngạn ngữ Pháp: “khi ta được chia quần, thì ta đã chẳng còn mông”. Tới năm 1955, Borges đã hoàn toàn bị hỏng thị giác: “Vinh quang, cũng như sự mù loà, tới cùng tôi chậm rãi từng bước một. Tôi không bao giờ tìm kiếm nó cả”.

      Nhưng tới những năm 50, Borges đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thế giới và từ những năm 60, ông đã được đánh giá như một trưởng lão làng văn. Có lẽ niềm vinh quang bất ngờ tới cùng với Borges đã được phù trợ bởi thành công của trào lưu “Tân tiểu thuyết” mà nữ văn sĩ Nathalie Sarraute đã viết ra bản tuyên ngôn rộng mở “Kỷ nguyên thức tỉnh”, được in vào đúng năm 1950:

      “…
      Khi nhà văn định kể một câu chuyện nào đó và hình dung ra việc mình sẽ phải viết “Hầu tước phu nhân đi ra vào lúc năm giờ” và cảnh độc giả sẽ mai mỉa thế nào khi nhìn vào cái đó, hẳn anh ta sẽ cảm thấy hoài nghi và không thể cất tay lên viết được…”. Cộng thêm vào đó là sự thất vọng ở thực tế, và cảm giác chán ngán vì những thủ pháp miêu tả truyền thống…

      Những gì mà tiến trình phát triển của tiểu thuyết châu Âu mãi mới tới được đã có sẵn trong các tác phẩm mà Borges đã viết từ lâu. Không ngẫu nhiên mà giữa những năm 70, Borges đã được đề cử vào giải Nobel văn chương. Nhưng mãi mà ông vẫn không được trao giải thưởng danh giá này. Cho tới lúc qua đời, Borges vẫn thích nhắc đi nhắc lại câu nói đùa nhưng không phải không có ẩn ý: “Tôi sung sướng vì là nhà văn lớn duy nhất đã không được nhận giải Nobel!”.

      Năm 1974, Borges rời khỏi chức Giám đốc Thư viện Quốc gia Argentina và sống ẩn dật trong một căn hộ nhỏ ở Buenos Aires. Một cụ già cô đơn, khiêm nhường, từng được nhận rất nhiều giải thưởng văn học danh giá. Cho tới năm 1981, ông vẫn khẳng định: “Dù sao tôi vẫn không có cảm giác là tôi đã viết hết mọi điều rồi. Về một khía cạnh nào đó tôi vẫn thấy gần hơn với nhiệt huyết thanh xuân so với lúc tôi còn trẻ. Giờ tôi không cho là không thể đạt được hạnh phúc…”.

      Năm 1986, Borges qua đời vì bệnh ung thư gan và được mai táng tại Geneva. Trước đó, năm 1982, trong bài giảng nhan đề “Sự mù lòa”, Borges tuyên bố: “Nếu chúng ta cho bóng tối có thể là phúc lộc của trời, thì ai có thể “tự mình sống” hơn người khiếm thị và ai có thể hiểu về bản thân mình hơn người khiếm thị?”

      Nhà văn Jorge Luis Borges.

      Tác phẩm

      Tác phẩm của ông bao trùm các nhân vật của sự hư không trong văn học tất cả. Cuốn sách của ông nổi tiếng nhất, Ficciones (1944) và The Aleph (1949), sưu tập truyện ngắn kết nối với nhau bởi các chủ đề phổ biến như những giấc mơ, mê cung, thư viện, động vật , nhà văn hư cấu, tôn giáo và Thiên Chúa. Tác phẩm của ông đã đóng góp cho thể loại khoa học viễn tưởng cũng như thể loại của chủ nghĩa hiện thực huyền diệu, một loại phản ứng chống lại chủ nghĩa hiện thực / tự nhiên của thế kỷ XIX. Trong thực tế, nhà phê bình thiên thần Flores, đầu tiên sử dụng thuật ngữ, thiết lập đầu này chuyển động với Borges của Historia phổ de la infamia (1935). Các học giả cũng đã đề nghị rằng tiến bộ Borges của đã giúp anh ta để tạo ra biểu tượng sáng tạo văn học thông qua trí tưởng tượng. [7] của ông những bài thơ cuối đối thoại với các nhân vật văn hóa như Spinoza, Camões, và Virgil.

      Sự nổi tiếng trên thế giới của ông đã được hợp nhất vào những năm 1960, với sự trợ giúp “Latin American Boom” và sự thành công của Gabriel García Márquez’s Cien Años de Soledad (One Hundred Years of Solitude).Tác giả , nhà văn JM Coetzee nói của anh ta:” Ông , nhiều hơn bất cứ ai, cải tạo ngôn ngữ của hư cấu và do đó mở đường cho một thế hệ đáng chú ý của tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Tây Ban Nha “.

      Sưu tầm.
      Nguồn: blogtintuconline.

      0 Not allowed! Not allowed!
      Nhà văn Jorge Luis Borges.

    2. #2
      Moderator thienbinh1992's Avatar
      Ngày tham gia
      Sep 2006
      Đang ở
      trong trái tim anh Zydar!^^
      Bài viết
      3,615
      Thích/Ko thích
      Đã nhận: 4/0
      Đã cho: 0/0

      Ignore User

      Mặc định

      1 trong những bài thơ của ông

      The Art of Poetry by Jorge Luis Borges


      To gaze at a river made of time and water
      and remember Time is another river.
      To know we stray like a river
      and our faces vanish like water.

      To feel that waking is another dream
      that dreams of not dreaming and that the death
      we fear in our bones is the death
      that every night we call a dream.

      To see in every day and year a symbol
      of all the days of man and his years,
      and convert the outrage of the years
      into a music, a sound, and a symbol.

      To see in death a dream, in the sunset
      a golden sadnesssuch is poetry,
      humble and immortal, poetry,
      returning, like dawn and the sunset.

      Sometimes at evening there’s a face
      that sees us from the deeps of a mirror.
      Art must be that sort of mirror,
      disclosing to each of us his face.

      They say Ulysses, wearied of wonders,
      wept with love on seeing Ithaca,
      humble and green. Art is that Ithaca,
      a green eternity, not wonders.

      Art is endless like a river flowing,
      passing, yet remaining, a mirror to the same
      inconstant Heraclitus, who is the same
      and yet another, like the river flowing.


      Sưu tầm.
      Nguồn: blogtintuconline

      0 Not allowed! Not allowed!
      Lần sửa cuối bởi thienbinh1992, ngày 24-08-2011 lúc 09:43 AM.
      Nhà văn Jorge Luis Borges.

    3. #3
      Moderator thienbinh1992's Avatar
      Ngày tham gia
      Sep 2006
      Đang ở
      trong trái tim anh Zydar!^^
      Bài viết
      3,615
      Thích/Ko thích
      Đã nhận: 4/0
      Đã cho: 0/0

      Ignore User

      Mặc định

      Những tác phẩm công bố


      FERVOR DE BUENOS AIRES, 1923
      LUNA DE ENFRENTE, 1923
      INQUISICIONES, 1925
      EL TAMAÑO DE MI ESPERANZA, 1926
      EL IDIOMA DE LOS ARGENTINOS, 1928
      CUADERNOS SAN MARTÍN, 1929
      EVARISTO CARRIEGO, 1930 – Evaristo Carriego: A Book about Old-Time Buenos Aires (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1984)
      DISCUSIÓN, 1932
      LAS KENNIGAR, 1933
      HISTORIA UNIVERSAL DE LA INFAMIA, 1935 – A Universal History of Infamy (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1972) / A Universal History of Iniquity (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999; translated with an introduction by Andrew Hurley, 2004)
      HISTORIA DE LA ETERNIDAD, 1936 – A History of Etenity (in Selected Non-Fictions, ed. Eliot Weinberger, 1999) – Ikuisuuden historia (teoksessa Haarautuvien polkujen puutarha, suom. Matti Rossi, 1969)
      VIRGINIA WOOLF: UN CUARTO PROPIO, 1936 (translator)
      VIRGINIA WOOLF: ORLANDO, 1937 (translator)
      FRANZ KAFKA: LA METAMORFOSIS, 1938 (ed.)
      WILLIAM FAULKNER: LAS PALMERAS SALVAJES, 1940 (translator)
      EL JARDÍN DE SENDEROS QUE SE BIFURCAN, 1941 – The Garden of Forking Paths (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) – Haarautuvien polkujen puutarha (suom. Matti Rossi, 1969)
      SEIS PROBLEMAS PARA DON ISIDRO PARODI, 1942 (under the pseudonym H. Bustos Domecq, with Adolfo Bioy Cesares) – Six Problems for Don Isidro Parodi (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1981)
      EL JARDIN DE SENDEROS QUE SE BIFURCAN, 1942
      POEMAS (1922-1943), 1943
      HERMAN MELVILLE: BARTLEBY, 1943 (translator)
      FICCIONES (1935-1944), 1944 – Ficciones (edited and witrh an introd. by Anthony Kerrigan, 1962) / Ficciones (edited and introduced by Gordon Brotherston and Peter Hulme, 1976) / Fictions (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / The Library of Babel (engravings by Erik Desmazières, translated by Andrew Hurley, 2000)
      DOS FANTASÍAS MEMORABLES, 1946 (under the pseudonym H. Bustos Domecq, with Adolfo Bioy Casares)
      UN MODELO PARA LA MUERTE, 1946 (under the pseudonym B. Suárez Lynch, with Adolfo Bioy Cesares)
      NUEVA REFUTACÍON DEL TIEMPO, 1947
      EL ALEPH, 1949 – The Aleph and Other Stories (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1970) / The Aleps (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / The Aleph (including the prose fictions from The Maker, translated with an introduction by Andrew Hurley, 2004)
      ASPECTOS DE LA LITERARA GAUCHESCA, 1950
      LA MUERTE Y LA BRÚJULA, 1951
      ANTIGUAS LITERATURAS GERMÁNICAS, 1951 (with Delia Ingenieros)
      OTRAS INQUISICIONES 1937-1952, 1952 – Other Inquisitions 1937-1952 (tr. Ruth L.C. Simms, 1964)
      EL “MARTIN FIERRO”, 1953 (with Margarita Guerrero)
      DÍAS DE ODIO, 1954 (screenplay, dir. Leopoldo Torre Nilsson)
      LOS ORILLEROS, 1955
      LEOPOLDO LUGONES, 1955 (with Betina Edelberg)
      MANUAL DE ZOOLOGIA FANTASTICA, 1957 (rev. ed. EL LIBRO DE LOS SERES IMAGINARIOS, 1967) – The Book of Imaginary Beings (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1969) / The Imaginary Zoo (tr. Tim Reynolds, 1969) / The Book of Imaginary Beings (translated by Andrew Hurley, 2005) - Kuvitteellisten olentojen kirja (suom. Sari Selander, 2009)
      OBRAS COMPLETAS, VIII 1954-60
      LIBRO DEL CIELO Y DEL INFIERNO, 1960
      EL HACEDOR, 1960 – The Dreamtigers (tr. Mildred Boyer and Harold Morland, 1964) / The Maker (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / Everything and nothing (tr. Donald A. Yates et al., 1999) - Unitiikerit (teoksessa Haarautuvien polkujen puutarha (suom. Matti Rossi, 1969)
      ANTOLOGÍA PERSONAL, 1961 – A Personal Anthology (tr. Anthony Kerrigan, 1967)
      Labyrinths; Selected Stories & Other Writings, 1962 (edited by Donald A. Yates & James E. Irby)
      MACEDONIO FERNÁDEZ, 1963
      EL OTRO, EL MISMO, 1964
      OBRAS COMPLETAS III, 1964
      PARA LAS SEIS CUERDAS, 1965
      INTRODUCCIÓN A LA LITERATURA INGLESA, 1965 (with María Esther Vázquez) – An Introduction to English Literature (tr. L. Clark Keating and Robert O. Evans, 1974)
      LITERATURAS GERMÁNICAS MEDIAVALES, 1966 (with María Esther Vásquez)
      CRÓNICAS DE BUSTOS DOMECQ, 1967 (with Adolfo Bioy Casares) – Chronicles of Bustos Domecq (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1976)
      LA NOCHE QUE EN EL SUR LO VELARON, 1967 – Deathwatch on the Southside (tr. Robert Fitzgerald, 1968)
      INTRODUCCIÓN A LA LITERATURA NORTEAMERICANA, 1967 (with Esther Zemborain de Torres) – An Introduction to American Literature (tr. Clark Keating and Robert O. Evans, 1971)
      MUEVA ANTOLOGÍA PERSONAL, 1968
      ELOGIO DE LA SOMBRA, 1969 – In Praise of Darkness (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1974) / In Praise of Darkness (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / Brodie’s Report: Including the Prose Fiction from In Praise of Darkness (translated with an introduction by Andrew Hurley, 2005)
      EL OTRO, EL MISMO, 1969
      INVASIÓN, 1969 (screenplay, with Adolfo Bioy Casares, Hugo Santiago, dir. Hugo Santiago)
      EL INFORME DE BRODIE, 1970 – Dr. Brodie’s Report (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1972) / Brodie’s Report (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) / Brodie’s Report: Including the Prose Fiction from In Praise of Darkness (translated with an introduction by Andrew Hurley, 2005) – Hiekkakirja (suomentanut Pentti Saaritsa, 2003)
      IL CONGRESSO DEL MONDO, 1972 – The Congress (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1974) / The Congress of the World (tr. Alberto Manguel, 1981)
      EL ORO DE LOS TIGRES, 1972 – The Gold of Tigers (tr. Norman Thomas di Giovanni, in The Book of Sand, 1975) / The Gold of the Tigers: Selected Later Poems: A Bilingual Edition (translated by Alastair Reid, 1977)
      Borges on Writing, 1973 (edited by Norman Thomas di Giovanni, Daniel Halpern, and Frank MacShane)
      SIETE CONVERSACIONES CON JORGE LUIS BORGES, 1973 (with Fernand0 Sorrentino) – Seven Conversations with Jorge Luis Borges (tr. Clark M. Zlotchew, 1982)
      OBRAS COMPLETAS, 1974 (ed. Carlos V. Frías)
      EL LIBRO DE ARENA, 1975 – The Book of Sand (tr. Norman Thomas di Giovanni, 1977) / The Book of Sand (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999) – Hiekkakirja (suomentanut Pentti Saaritsa, 2003)
      LA ROSA PROFUNDA, 1975
      PRÓLOGOS CON UN PRÓLOGO DE PRÓLOGOS, 1975
      LA MONEDA DE HIERRO, 1976
      LIBRO DE SUEÑOS, 1976
      ANDROGUÉ, 1977
      ASESINOS DE PAPEL, 1977
      HISTORIA DE LA NOCHE, 1977
      LA ROSA DE PARACELSO, 1977
      NUEVOS CUENTOS DE BUSTOS DOMECQ, 1977 (with Adolfo Bioy Casares)
      TIGRES AZULES, 1977
      NORAH, 1977 (with Norah Borges)
      OBRA POÉTICA, 1964-1978 (6 vols.)
      OBRAS COMPLETAS EN COLABORARACIÓN, 1979
      NARRACIONES, 1980 (ed. Marcos Ricardo Barnatán)
      PROSA COMPLETA, 1980 (2 vols.)
      SIETE NOCHES, 1980 – Seven Nights (tr. Eliot Weinberger, 1984)
      LA CIFRA, 1981
      NUEVE ENSAYOS DANTESCOS, 1982
      VEINTICINCO AGOSTO DE 1983 Y OTROS CUENTOS, 1983 – Shakespeare’s Memory (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999)
      OBRA POETICA, 1923-1977, 1983
      Y OTROS CUENTOS, 1983
      ALTAS, 1984 (with María Kodoma) – Atlas (tr. Anthony Kerrigan, 1985)
      LOS CONJURADOS, 1985
      TEXTOS CAUTIVOS, 1986 (ed. Enrique Socerio-Gari and Emir Rodríguez Monegal)
      EL ALEPH BORGIANO, 1987
      BORGES, EL JUDAISMO E ISRAEL, 1988
      PÁGINAS ESCOGIDAS, 1988 (ed. Roberto Fernández Retamar)
      BIBLIOTECA PERSONAL: PRÓLOGOS, 1988
      OBRAS COMPLETAS 1975-1985, 1989 – Shakespeare’s Memory (tr. Andrew Hurley, in Collected Fictions, 1999)
      Selected Poems, 1998 (edited by Alexander Coleman)
      Collected Fictions, 1998 (tr. Andrew Hurley)
      Selected Non-Fictions, 1999 (ed. Eliot Weinberger, tr. Esther Allen, Suzanne Jill Levine, Eliot Weinberger)
      BORGES POR ÉL MISMO: POEMAS, 1999
      CORRESPONDENCIA, 1922-1939, 2000 (ed. Carlos García)
      This Craft Verse, 2000 (ed. Calin-Andrei Mihailescu)
      TEXTOS RECOBRADOS, 2002
      OBRAS COMPLETAS: EDICIÓN CRÍTICA. 1. 1923-1949, 2009 (ed. Rolando Costa Picazo)
      OBRAS COMPLETAS: EDICIÓN CRÍTICA. 2. 1952-1972, 2010 (ed. Rolando Costa Picazo)

      Sưu tầm.
      Nguồn: blogtintuconline.

      0 Not allowed! Not allowed!
      Nhà văn Jorge Luis Borges.

    Đánh dấu

    Quyền viết bài

    • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
    • Bạn Không thể Gửi trả lời
    • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
    • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
    •  



    About BuonChuyen.info

      Rất vui được đón tiếp các bạn tại diễn đàn chúng tôi, hy vọng rằng thông qua đây các bạn sẽ có thêm nhiều phút giây vui vẻ & kết thêm được nhiều bạn mới . Cúng chúng tôi xây dựng và phát triển ngôi nhà nhỏ này nhé . Nội dung được phát triển bởi các thành viên buonchuyen.info. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung do các thành viên đăng tải.

    Follow us on

    Twitter Facebook youtube Flickr DavianArt Dribbble RSS Feed